Đồ vật – Georges Perec

Dưới đây là phần II chương I của tiểu thuyết Đồ vật của Georges Perec chuyển thể Việt ngữ do Hoàng Hưng. Một bản dịch rất tốt.

Cuộc sống của họ quả thật là một sự chung đụng nhiều giá trị. Sau khi ra đi tìm kiếm sự giàu có, họ mơ để quay trở về. Ở nơi đó, lúc nào cũng là sự đấu tranh với ham muốn giàu có sẽ mang lại.

Từ Hoàng Cung đến khu Saint-Germain, từ vườn Champs-de-Mars đến quảng trường Ngôi Sao, từ vườn Luxembourg đến khu Montparnasse, từ đảo Saint-Louis đến khu Marais, từ đại lộ Ternes đến Nhà Hát Nhạc Kịch, từ khu nhà thờ Madeleine đến công viên Monceau, toàn bộ Paris là một sự cám dỗ liên miên. Họ bừng bừng, say sưa, muốn ngã gục lập tức và mãi mãi.

__________

Người ta không thể sống lâu trong sự cuồng nhiệt. Trong cái thế giới hứa hẹn bao nhiêu mà chẳng cho gì hết này, áp lực quá mạnh. Sự kiên nhẫn của họ đã hết mức. Một ngày nọ, họ tin rằng mình đã hiểu: họ phải có một chốn nương thân.

Cuộc sống của họ ở Paris dậm chân tại chỗ. Họ không tiến lên nữa. Và đôi khi – không ngừng tác động quá mức lên nhau với những chi tiết dỏm thật dồi dào đánh dấu mỗi giấc mơ của họ – họ tự tưởng tượng mình là những tay tiểu tư sản tuổi tứ tuần, chàng, người cổ súy một hệ thống bán hàng đến từng nhà (sản phẩm Bảo Hộ Gia Ðình, Xà Bông cho Người Mù, cho Sinh Viên Thiếu Thốn), nàng, bà nội trợ hiền thục, và căn hộ sạch sẽ xinh xắn của họ, chiếc xe hơi nhỏ của họ, nhà trọ gia đình nho nhỏ mà họ sống trong tất cả mọi kỳ nghỉ, chiếc máy thu hình của họ. Hay là, ngược lại, và như thế còn tệ hơn, những kẻ lang bạt già nua, cổ áo cuộn lại và quần nhung, chiều nào cũng ở cùng một cái quán hàng hiên khu Saint-Germain hay Montparnasse, sống lay lắt nhờ những cơ hội hiếm hoi, ty tiện đến tận đầu móng tay đen đúa.

Họ mơ sống ở thôn quê, ẩn náu khỏi mọi cám dỗ. Cuộc sống của họ sẽ thanh đạm và trong trẻo. Họ sẽ có một ngôi nhà bằng đá trắng, ở lối vào một cái làng, những chiếc quần ấm áp bằng nhung kẻ, những đôi giày to đùng, một chiếc áo trượt tuyết, một cây can đầu bịt sắt, một chiếc mũ, và mỗi ngày họ sẽ đi dạo lâu trong các khu rừng. Rồi họ trở về, tự chuẩn bị trà và những lát bánh mì nướng, giống như người Anh, họ sẽ bỏ những xúc củi lớn vào lò sưởi; họ sẽ đặt trên mâm máy hát một bản tứ tấu mà họ sẽ nghe không bao giờ chán, họ sẽ đọc những cuốn tiểu thuyết lớn mà họ chưa bao giờ có thời giờ đọc, họ sẽ tiếp đãi bạn bè.

Những chuyến về thôn quê xả hơi này thường xảy ra, nhưng hiếm khi đạt tới giai đoạn trở thành dự án thật sự. Ðúng là có hai hay ba lần họ tự hỏi về những nghề có thể dành cho mình ở thôn quê: chẳng có những nghề như thế. Ý tưởng trở thành giáo viên có lúc thoáng qua, nhưng họ chán ngay khi nghĩ đến những lớp học quá tải, những ngày dài mệt nhọc. Họ mơ hồ nói đến việc bán sách rong hay chế tạo đồ gốm quê tại một thôn trang hẻo lánh trong vùng Provence. Rồi họ thích thú tưởng tượng là họ chỉ sống ở Paris có ba ngày một tuần để kiếm đủ sống thoải mái thời gian còn lại ở vùng Yonne hay Loiret. Nhưng các kế hoạch lên đường thai nghén ấy chẳng bao giờ tiến xa lắm. Họ không bao giờ hình dung được những khả năng, hay đúng hơn là những điều bất khả trong thực tế.

Họ mơ bỏ việc, mặc tất cả, để đi phiêu lưu. Họ mơ xuất phát trở lại từ số không, bắt đầu trở lại tất cả trên những cơ sở mới. Họ mơ chuyện cắt đứt và vĩnh biệt.

Tuy nhiên ý tưởng vẫn tiếp diễn, chầm chậm bắt rễ trong lòng họ. Giữa tháng 9 năm 1962, trở về từ kỳ nghỉ tầm thường bị hỏng vì mưa và thiếu tiền, dường như họ đi đến quyết định. Một mẩu rao trên tờ Le Monde vào đầu tháng 10 tìm người dạy học ở Tunisie. Họ ngần ngừ. Ðó không phải cơ hội lý tưởng – họ đã mơ đến Ấn Ðộ, Hoa Kỳ, Mehico. Ðó chỉ là một công việc tầm tầm, sát mặt đất, không hứa hẹn cả của cải lẫn sự phiêu lưu. Họ không cảm thấy sự cám dỗ. Nhưng họ có vài người bạn ở Tunis, những bạn học cũ hồi phổ thông, đại học, thế rồi khí hậu ấm nóng, Ðịa Trung Hải xanh ngắt, sự hứa hẹn một cuộc sống khác, một sự xuất phát khác, một công việc khác: họ thuận lòng ghi tên. Người ta nhận họ.

Những cuộc lên đường thật sự thường được chuẩn bị trước từ lâu. Cuộc này bị hẫng. Nó giống như một cuộc đào tẩu. Trong suốt mười lăm ngày, họ chạy từ văn phòng này đến văn phòng khác, lo chiếu khán, lo vé, lo hành lý. Rồi, đến bốn ngày truớc khi lên đường, họ được biết rằng Sylvie, có hai bằng cử nhân, được bổ nhiệm ở trường trung học kỹ thuật Sfax cách Tunis 260 kilomet, còn Jérôme, mới có trình độ dự bị đại học, thì sẽ làm thầy giáo tiểu học ở Mahares, còn xa hơn 35 kilomet nữa.

Ðó là một tin xấu. Họ muốn thoái thác. Tunis, nơi người ta chờ đón họ, tại đó một chỗ ở đã được giữ trước cho họ, mới là nơi họ muốn đến, và tưởng mình sẽ đến. Nhưng muộn quá rồi. Họ đã cho thuê lại căn hộ, đã giữ chỗ, đã hẹn buổi tiệc chia tay. Ðã từ lâu họ chuẩn bị để ra đi. Và rồi Sfax, họ chỉ biết sơ sơ cái tên ấy, đó là nơi cùng trời cuối đất, là hoang mạc, thế là thậm chí, với cái thú mãnh liệt được ở vào những tình huống cực đoan, họ chẳng còn khó chịu khi nghĩ rằng mình sắp bị cắt đứt với mọi thứ, xa lánh tất cả, cô lập như chưa từng bao giờ như vậy. Dẫu sao họ cũng thống nhất rằng một chân thầy giáo tiểu học, nếu không là một thất vọng quá lớn, thì ít ra cũng là một trách nhiệm quá nặng nề: Jérôme quyết định hủy bỏ cam kết của mình: chỉ một suất tiền lương cũng đủ cho phép họ sống cho đến khi anh tìm được một công việc nào đấy ngay tại chỗ.

Thế là họ lên đường. Mọi người đưa họ ra ga, và sáng ngày 23 tháng 10, với bốn chiếc rương đầy sách và một chiếc giường gấp, họ lên tàuCommandant-Crubellier ở Marseille nhắm đích Tunis. Biển động và bữa ăn trưa không ngon lành. Họ bị ốm, phải uống thuốc và ngủ li bì. Sáng hôm sau Tunisie đã ở trước mắt. Trời đẹp. Họ mỉm cười với nhau. Họ trông thấy một hòn đảo mà người ta bảo họ rằng nó tên là đảo Plane, rồi những bãi biển rộng dài và mỏng, và sau đó là tiền cảng La Goulette, những đàn chim di trú bay trên hồ.

Họ sung sướng vì đã ra đi. Họ cảm thấy như mình ra khỏi một địa ngục của những xe điện ngầm chật ních, những đêm quá ngắn ngủi, những cơn đau răng, những bấp bênh. Ở trong đó họ không nhìn được rõ. Cuộc sống của họ chỉ là một kiểu nhảy múa không ngừng trên một sợi dây căng thẳng, không dẫn đến gì hết: một ham muốn trống rỗng, một dục vọng trần trụi, không giới hạn và không chỗ dựa. Họ tự cảm thấy kiệt sức. Họ ra đi để tự chôn vùi, để quên, để tự xoa dịu.

Mặt trời rực rỡ. Con tàu tiến lên chậm rãi, lặng lẽ, trên con lạch chật hẹp. Trên con đường gần bên, những người đứng trong những chiếc xe không mui khoát tay ra hiệu với họ. Trên trời có những đám mây nhỏ đứng im. Thời tiết đã nóng bức. Những tấm thép ở bờ thành tàu đã ấm lên. Trên boong, phía dưới họ, các thủy thủ xếp những chiếc ghế tựa dài thành chồng, cuộn lại những tấm bố dài quét hắc ín che hầm tàu. Những dòng người xếp hàng trên các cầu thang đổ bộ.

Họ đến Sfax vào hôm sau nữa, khoảng hai giờ chiều, sau bảy giờ ngồi tàu hỏa. Hơi nóng ngột ngạt. Trước mặt nhà ga – một ngôi nhà nhỏ xíu màu trắng và hồng, trải dài một đại lộ bất tận, xám xịt vì bụi, có trồng những cây cọ xấu xí, hai bên là những tòa nhà mới. Vài phút sau lúc tàu đến, sau khi các xe hơi và xe đạp chuyển bánh, thành phố lại rơi vào một sự im lặng hoàn toàn.

Họ gửi va-li lại phòng giữ hành lý. Họ vào đại lộ mang tên đại lộ Bourguiba; sau khoảng gần ba trăm mét, họ tới một nhà hàng. Một chiếc quạt máy treo tường to xụ, quay được, kêu xọc xạch. Trên những chiếc bàn dính nhớp phủ vải dầu, dính chùm vài chục con ruồi mà một anh chạy bàn râu ria nham nhở lấy khăn xua uể oải. Họ ăn một đĩa cá ngừ trộn xà lách và một lát thịt bê chiên kiểu Milan, mất hai trăm quan.

Rồi họ tìm một khách sạn, giữ một phòng, thuê chở va-li đến. Họ rửa tay rửa mặt, nằm dài ra một lúc, thay quần áo, xuống phố trở lại. Sylvie đến trường Trung Học Kỹ Thuật, Jérôme ngồi trên một ghế dài đợi cô ở ngoài. Khoảng bốn giờ, Sfax bắt đầu chậm chạp thức dậy. Hàng trăm đứa trẻ con xuất hiện, rồi những phụ nữ che mạng, những viên cảnh sát mặc quần áo po-pơ-lin xám, những người ăn mày, những chiếc xe bò, những con lừa, những tay trưởng giả sạch bong.

Sylvie bước ra, tay cầm bản thời khóa biểu. Họ còn đi dạo nữa; họ uống một can bia nhỏ và ăn những trái ô-liu và hạnh nhân muối. Những người bán báo rao bán Le Figaro số ra ngày hôm kia. Họ đã đến nơi.

Ngày hôm sau, Sylvie làm quen với một vài đồng nghiệp tương lai. Những người này giúp họ tìm một căn hộ. Ðó là ba căn phòng rộng thênh thang, trần cao, hoàn toàn trần trụi: một hành lang dài dẫn đến một gian phòng nhỏ hình vuông có năm cửa mở vào ba buồng,một phòng tắm, một nhà bếp rộng mênh mông. Hai bao lơn nhìn ra một cảng cá nhỏ, vũng A trên con lạch phía nam, có vài điểm giống với cảng Saint-Tropez, và một cái phá mùi hôi thối. Họ đặt những bước chân đầu tiên trong khu phố Ả Rập, mua một cái giát giường lò-xo, một cái nệm bằng vải crin, hai chiếc ghế bành mây, bốn chiếc ghế đẩu bằng thừng, hai cái bàn, một chiếc chiếu dệt bằng cỏ alfa màu vàng trang trí rất ít hoa văn màu đỏ.

Rồi Sylvie bắt đầu lên lớp. Họ ổn định dần từng ngày. Những chiếc rương của họ đến nơi sau chặng du hành rất chậm chạp. Họ rỡ sách vở, đĩa hát, máy hát, các đồ mỹ nghệ. Họ chế những chao đèn bằng các tờ giấy thấm lớn màu đỏ, màu xám, màu xanh. Họ mua những tấm ván dài được cưa cắt sơ sài, những viên gạch 12 lỗ và phủ kín hai phần ba các bức tường bằng những bộ ván giá. Họ dán trên khắp các tường hàng chục bức tranh in, và trên một tấm ván ở chỗ dễ thấy, là những tấm ảnh của tất cả bạn bè.

Ðó là một chỗ ở buồn và lạnh lẽo. Các bức tường quá cao, phủ một lớp vôi màu vàng đất long lở từng mảng lớn, sàn nhà chỉ lát độc một loại gạch vuông không màu, không gian vô ích, tất cả đều quá to, quá trần trụi để họ có thể ở. Phải chi họ có đến năm hay sáu người, vài người bạn tốt, đang ăn, uống, nói năng. Nhưng họ chỉ có một mình, lạc lõng. Gian phòng ngoài, với chiếc giường trại lính phủ một tấm nệm nhỏ và một cái chăn sặc sỡ, với cái chiếu dày vứt bên trên vài cái nệm, với nhất là những cuốn sách – dãy sách Pléiade, những xê-ri họa báo, bốn cuốn Tisné – những đồ mỹ nghệ, những đĩa hát, tấm bản đồ lớn các hải cảng, Lễ Hội Caroussel, tất cả những gì chẳng quá lâu trước đó đã trang hoàng một đời sống khác của họ, tất cả những gì, trong cái vũ trụ cát và đá này, đưa họ trở về con phố Quatrefages, về cái cây xanh lâu đến thế, về những khu vườn nhỏ, gian phòng ngoài vẫn còn phân phát một hơi ấm nào đó: nằm sấp trên chiếu, một tách nhỏ xíu cà-phê pha kiểu Thổ ở bên cạnh, họ nghe Bản Sonate tặng Kreutzer, Archiduc, Cô Gái và Thần Chết, và như thể, trong căn phòng lớn ít đồ đạc này, gần như một gian hội trường, âm nhạc có được một âm vang đáng ngạc nhiên, bắt đầu lấp đầy nó và bỗng nhiên biến đổi nó: đó là một người khách, một người bạn rất thân, mất mặt từ lâu, ngẫu nhiên gặp lại, đến cùng dùng bữa với họ, nói với họ về Paris, trong buổi tối tháng mười một mát mẻ này, trong cái thành phố xa lạ này mà không có gì thuộc về họ, mà họ không cảm thấy thoải mái, đưa họ giật lùi trở lại, cho phép họ tìm thấy lại một cảm giác gần như đã quên đi mất về sự đồng lõa, về cuộc sống chung đụng, như thể, trong một chu vi hẹp – mặt chiếc chiếu, hai xê-ri ván giá sách, chiếc máy hát, vòng sáng cắt bởi cái chao đèn hình trụ – đã cắm rễ và sống sót được một vùng được che chở mà cả thời gian lẫn sự cách trở không thể làm hư hại.

Nhưng xung quanh vùng ấy, là sự lưu đầy, là cái chưa biết: cái hành lang dài dội quá mạnh những bước chân, căn phòng mênh mông và giá lạnh, không thân thiện, với đồ đạc duy nhất là một chiếc giường rộng quá cứng có mùi rơm, với cây đèn khập khiễng đặt trên một cái hòm cũ dùng làm bàn đầu giường, chiếc rương bằng mây đựng đầy khăn trải, chiếc ghế đẩu chất đống những quần áo; căn thứ ba, không dùng vào việc gì, họ chẳng bao giờ vào. Rồi cầu thang bằng đá, lối vào rộng lớn thường xuyên bị đe dọa bởi cát; con phố: ba ngôi nhà hai tầng, một nhà trống vách để phơi khô bọt biển, một mảnh đất hoang; thành phố ở xung quanh.

Chắc là ở Sfax họ đã sống tám tháng lạ lùng nhất trong cả đời mình.

Sfax, hải cảng và khu phố Âu của nó đã bị phá hủy trong chiến tranh, gồm có khoảng ba chục con phố cắt thẳng góc với nhau. Hai phố chính là đại lộ Bourguiba, chạy từ nhà ga đến Chợ Trung Tâm, họ sống ở gần đấy, và đại lộ Hedi-Chaker, chạy từ hải cảng đến khu phố Ả-rập. Giao điểm của hai đại lộ làm thành trung tâm của thành phố: ở đó có tòa thị chính, hai gian phòng ở tầng hầm chứa vài đồ gốm cũ và nửa tá tranh ghép mảnh, pho tượng và ngôi mộ của Heidi Chaker, ngườibị đảng Bàn Tay Ðỏ ám sát ít lâu trước ngày Ðộc Lập, có quán Cà phê Tunis mà những người Ả-rập thường lui tới, và quán Cà-phê La Régence mà những người Âu thường lui tới, một khoảnh đất trồng hoa, một ki-ốt bán báo, một quầy thuốc lá lẻ.

Ði một vòng khu phố Âu mất hơn mười lăm phút một chút. Từ tòa nhà họ ở, đến trường kỹ thuật mất ba phút, đến chợ mất hai phút, đến nhà hàng mà bữa nào họ cũng tới ăn mất năm phút, đến quán Cà-phê La Régence mất sáu phút, cũng chừng ấy phút đến ngân hàng, thư viện thành phố, đến sáu trong số bảy rạp chiếu bóng. Bưu điện và nhà ga và trạm cho thuê xe hơi đi Tunis và Gabès cách xa dưới mười phút, là những giới hạn cuối cùng của những gì cần biết đủ để sống ở Sfax.

Khu phố Ả-rập, có công sự bảo vệ, cổ xưa và đẹp, trưng ra những tường thành màu xám nâu và những cái cổng phải nói một cách chính đáng là tuyệt vời. Họ thường vào trong đó, và lấy đó làm mục tiêu gần như đặc biệt của tất cả các cuộc đi dạo của mình, nhưng bởi vì đúng thật họ chỉ là những kẻ dạo chơi, nên họ luôn luôn vẫn là khách lạ. Họ không hiểu được những cơ chế đơn giản nhất của khu phố ấy, họ chỉ thấy ở đó một mê cung các con phố; họ ngước mắt ngắm nghía một cái bao lơn bằng sắt uốn, một cái xà nhà sơn màu, vòng cung nhọn thuần khiết của một cửa sổ, một phối hợp tinh tế bóng tối và ánh sáng, một cầu thang chật hẹp cực độ, nhưng các cuộc dạo chơi của họ không có mục đích; họ đi vòng vòng, lúc nào cũng sợ bị lạc, mau chóng mệt mỏi. Rút cuộc, chẳng có gì thu hút họ trong sự kế tiếp nhau của những chái bán hàng khốn khổ, những hiệu tạp hóa gần như đồng nhất, những souk tù túng, trong sự xen kẽ khó hiểu của những con phố lúc nhúc và những con phố trống không, trong cái đám đông mà họ không thấy được là đi về đâu.

Cái cảm giác xa lạ kia mạnh thêm, trở nên gần như bức bối khi mà, trước mặt là những buổi chiều dài trống rỗng, những chủ nhật buồn nản, họ băng qua khu phố Ả-rập hết chỗ này đến chỗ kia, và, ra khỏi khu Bab Djebli, họ tới những vùng ngoại ô bất tận của Sfax. Chạy dài nhiều ki-lô-mét, là các vườn nhỏ xíu, các bờ rào bằng cây vả Barbarie, các ngôi nhà bằng torchis, các túp lều bằng tôn và giấy bìa; rồi các phá mênh mông hoang vu và hôi thối, và tít tắp vô cùng, những cánh đồng ô-liu đầu tiên. Họ dề dà hàng mấy giờ liền: họ đi ngang trước mặt những trại lính, băng qua những bãi đất hoang, những vùng lầy bùn.

Và khi họ trở vào lại khu phố Âu, khi họ đi ngang trước rạp chiếu bóng Hillal hay trước mặt rạp chiếu bóng Nour, khi họ ngồi vào bàn ở quán La Régence, vỗ vào lòng bàn tay để gọi người hầu bàn, kêu một Coca-Cola hay một can bia nhỏ, mua tờ Le Monde mới nhất, huýt sáo gọi ông bán hàng rong lúc nào cũng mặc một chiếc áo blu dài màu trắng bẩn thỉu, đội một chiếc mũ chào mào bằng vải bố, để mua vài gói lạc, hạnh nhân rang, hạt điều và hạt thông lọng, khi ấy họ cảm nhận đưọc sự u sầu của kẻ đang ở nhà mình.

Họ bưóc đi bên những cây cọ xám xịt vì bụi; họ đi dọc theo những mặt tiền kiểu tân-Maure của những tòa nhà trên đại lộ Bourguiba; họ ném một cái nhìn mơ hồ vào những cửa kính xấu xí: những đồ đạc mỏng mảnh, những chân đèn bằng sắt uốn, những cái chăn ấm áp, những quyển vở học trò, những áo đầm đi phố, những đôi giày phụ nữ, những chai gaz butan: đó là thế giới duy nhất, thế giới thực sự của họ. Họ lê bước về nhà; Jérôme pha cà-phê trong những chiếc zazoua nhập từ Tiệp Khắc; Sylvie chữa một tập bài.

Lúc đầu Jérôme cũng thử tìm việc làm; anh đi Tunis nhiều lần và nhờ có vài bức thư giới thiệu xoay được từ bên Pháp, và dựa vào các bạn người Tunisie, anh đã gặp mấy viên chức thuộc Bộ Thông Tin, Ðài Phát Thanh, Công ty Du Lịch, Bộ Giáo Dục. Mất công vô ích: ở Tunisie không có việc nghiên cứu động cơ, cũng không có những việc làm nửa ngày, và các công việc nhàn rỗi hiếm hoi thì được chiếm giữ quá chặt; anh không có nghiệp vụ; anh không phải kỹ sư, cũng chẳng phải kế toán, họa viên kỹ nghệ hay thầy thuốc. Người ta lại đề nghị anh làm thầy giáo tiểu học hay giám thị; anh không chịu nổi nữa: anh mau chóng buông hết hy vọng. Ðồng lương của Sylvie cho phép họ sống nhỏ giọt: ở Sfax đó là lối sống phổ biến nhất.

Sylvie kiệt sức để làm học sinh hiểu được, theo đúng chương trình, những vẻ đẹp kín đáo của Malherbe hay Racine, các học sinh này lớn hơn cô và không biết viết. Jérôme bỏ phí thời gian. Anh bập vào những dự án khác nhau – chuẩn bị một kỳ thi xã hội học, tìm cách xếp đặt trật tự các ý tưởng về điện ảnh – nhưng không thể tiếp tục đến nơi đến chốn. Anh lê bước trên các phố, chân dận đôi giày Weston, xải bước trên bến cảng, lang thang trong chợ. Anh vào nhà bảo tàng, trao đổi vài lời với người bảo vệ, ngắm nghía một lúc một chiếc vò cổ hai quai, một dòng bia mộ, một bức tranh ghép mảnh: Daniel trong hố sư tử, Amphitrite cưỡi cá heo. Anh đi xem một trận đấu quần vợt trên mảnh sân được dọn dẹp dưới chân tường thành, anh băng ngang khu phố Ả-rập, thơ thẩn trong các souk, nhấc xem những tấm vải, đồ đồng, yên ngựa. Anh mua tất cả các tờ nhật báo, chơi các ô chữ, mượn sách ở thư viện, viết cho bạn bè những bức thư hơi buồn bã và thường không có trả lời.

Thời khóa biểu của Sylvie giữ nhịp cho đời sống của họ.

Tuần lễ của họ gồm có những ngày hên: ngày thứ hai, vì các chương trình phim thay mới, ngày thứ tư, vì buổi chiều được rảnh rỗi, ngày thứ sáu vì cả ngày rảnh rỗi và vì lại thay phim mới – và những ngày xui: các ngày còn lại. Ngày chủ nhật là một ngày vô thưởng vô phạt, buổi sáng dễ chịu – họ nằm phơi rốn trên giường, các tờ tuần báo từ Paris tới, buổi chiều thì dài, buổi tối ảm đạm, nếu không do ngẫu nhiên một bộ phim lôi cuốn họ, nhưng hiếm khi có hai phim đáng lưu ý, hay đơn giản là xem được, được chiếu trong cùng một nửa tuần lễ.

Các tuần cứ thế trôi qua. Chúng kế tiếp nhau một cách đều đặn máy móc: bốn tuần làm nên một tháng, hay gần như thế; tất cả các tháng đều giống nhau. Các ngày, sau khi ngắn dần đi, trở nên dài dần ra.

Mùa đông ẩm ướt, gần như lạnh.

Cuộc sống của họ trôi đi.

コメントを残す

以下に詳細を記入するか、アイコンをクリックしてログインしてください。

WordPress.com ロゴ

WordPress.com アカウントを使ってコメントしています。 ログアウト /  変更 )

Google フォト

Google アカウントを使ってコメントしています。 ログアウト /  変更 )

Twitter 画像

Twitter アカウントを使ってコメントしています。 ログアウト /  変更 )

Facebook の写真

Facebook アカウントを使ってコメントしています。 ログアウト /  変更 )

%s と連携中